AHLĐ.GS.TSKH Đặng Hùng Võ - Người nâng bước những công trình khoa học nước nhà

16-11-2016

(Nienlich.vn) Chọn ngành điện tử Bách khoa làm mục tiêu khi tốt nghiệp cấp 3 năm 1964, AHLĐ.GS.TSKH Đặng Hùng Võ ngẫu nhiên bị “nhấc” sang khoa trắc địa mới mở chỉ vì “ngành này cần những người giỏi toán”. Chắc hẳn bản thân cậu tú 41 năm trước cũng không thể ngờ suốt cuộc đời mình lại sống chết với cái ngành xa lạ này, cũng không thể ngờ sẽ trở thành người đặt nền móng công nghệ hiện đại cho hạ tầng thông tin xã hội nước nhà.

AHLĐ.GS.TSKH Đặng Hùng Võ

 

Câu chuyện về người thanh niên trẻ tuổi với cái duyên "ngành Trắc địa - Bản đồ"

 

Năm 12 tuổi, cậu bé Đặng Hùng Võ mang trong mình tố chất của một gia đình Nho giáo, rời làng Lê Xá, xã Đa Tốn, huyện Gia Lâm, sang bên Hà Nội trọ học và tốt nghiệp phổ thông tại trường Phổ thông III Hà Nội A (trường Việt Đức bây giờ). Với suy nghĩ giản dị rằng: “Kỹ thuật là một thứ ai cũng cần, trong đó điện là thứ mà nhiều người cần nhất trong tương lai”, người thanh niên ấy đã đăng ký thi vào khoa Điện của Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội. Đạt điểm số rất cao, nhưng anh lại “bị” xếp vào học một ngành “mới toanh” của trường, đó là ngành Trắc địa - Bản đồ với lý do, ngành này cần những người giỏi toán. Tuy không phải ngành mình lựa chọn, nhưng anh tự nhủ “ở trong bất kỳ một hoàn cảnh nào, mình cũng phải tìm ra được điều hay và sáng tạo nó”.

Hết năm thứ 3 đại học, đang học ngành Trắc địa - Bản đồ ở Đại học Bách Khoa anh lại được “nhấc” sang khoa Toán của Trường Tổng hợp Hà Nội, để sau đó trở thành giảng viên của trường Đại học Mỏ - Địa chất trong 8 năm. Tại đây, anh là một trong những người có công đầu đối với những môn học có tính tiên phong như môn Trắc địa vũ trụ hay Máy tính ứng dụng trong đo đạc bản đồ từ những năm 1972...

Giai đoạn 1980-1984, Đặng Hùng Võ là nghiên cứu sinh ở Ba Lan và giai đoạn 1985-1988, anh làm cộng tác viên khoa học ở nước này. Đây là giai đoạn thuận lợi nhất để ông tiếp cận với những thành tựu mới về đo đạc, công nghệ đo đạc và bản đồ của các nước tiên tiến để chọn nghiên cứu những đề tài khoa học lớn nhưng có khả năng áp dụng cho đất nước sau này. Công trình ứng dụng công nghệ trắc địa vệ tinh để xây dựng lưới Thiên văn - Trắc địa - Vệ tinh, thực hiện trong giai đoạn 1978-1984 của nghiên cứu sinh Đặng Hùng Võ được đánh giá cao ở nước ngoài, đóng góp đáng kể về lý luận và thực tiễn, được nhận Giải thưởng khoa học của trường ĐH Bách khoa Vác-Sva (Ba Lan). Từ kết quả nghiên cứu đã đóng góp trực tiếp cho việc xây dựng Hệ quy chiếu và hệ tọa độ quốc gia VN-2000 đạt trình độ công nghệ cao.

 

Ảnh chụp AHLĐ.GS.TSKH Đặng Hùng Võ đang trò chuyện với người chú của ông - GS.TSKH Đặng Vũ Khúc (Ảnh: Internet)

 

Năm 1989, khi trở về Việt Nam, anh Võ đã bắt tay vào chương trình đổi mới công nghệ của ngành. Lúc đó, công nghệ trắc địa và bản đồ nước ta rất lạc hậu, chủ yếu vẫn sử dụng các thiết bị quang học, cơ học. Để đo đạc toạ độ các điểm của lưới toạ độ nhà nước, người ta phải dựng những cột tiêu cao có khi tới vài chục mét, phải chặt nhiều cây cao để nhìn được thấy nhau trên các điểm liền kề. Đội đo đạc dăm bẩy người phải ăn trực, nằm chờ trên điểm có khi tới vài tháng để đợi lúc trời quang, mây tạnh mà tranh thủ đo ngắm. Lực lượng lao động làm việc này có tới cả nghìn người. Công việc cực nhọc nhưng ngần ấy công nhân chỉ nhìn vào khối lượng lớn việc dựng nhiều tiêu cao, chặt nhiều cây to để tính đếm nguồn thu nhập cho gia đình. Trong khi đó trên thế giới người ta bắt đầu sử dụng công nghệ định vị vệ tinh toàn cầu. Không cần dựng tiêu, không cần chặt cây, người ta chỉ cần đặt máy trong 3 giờ với bất kỳ thời tiết nào cũng có thể đo được toạ độ giữa các điểm, kể cả điểm xa nhau như từ Cổng Trời ở Hà Giang tới Đất Mũi ở Cà Mau. Việc đưa công nghệ định vị vệ tinh toàn cầu vào thay thế công nghệ đo đạc bằng máy quang học sẽ rất lợi nhiều mặt, từ không phải dựng tiêu cũng như phát cây tới đo vừa nhanh vừa xa, tiết kiệm được nhiều lắm.

Anh Võ đã quyết định chọn điểm này làm nơi đột phá của chương trình đổi mới công nghệ. Khó khăn bước đầu là thiếu vốn đầu tư, thứ nữa là làm sao mua được thiết bị khi Mỹ đang cấm vận, tiếp theo là ai sẽ chuyển giao công nghệ khi trên thế giới vào thời điểm đó (1990), mới chỉ có mười nước đang áp dụng. Anh Võ đã đưa ra các biện pháp rất cụ thể. Vay tiền để mua thiết bị, nếu thành công chắc Nhà nước sẽ đầu tư; nhờ bạn bè quốc tế mua giúp thiết bị để đánh thủng hàng rào cấm vận của Mỹ; chất xám trong nước tự nghiên cứu mà không cần chuyển giao công nghệ. Sau một năm triển khai, công nghệ định vệ tinh toàn cầu đã thành công ở Việt Nam. Khi đó, trên khuôn mặt đầy phấn khởi của anh đang chen lẫn những nét buồn. Có người bạn đã đến nói thẳng với anh: "Thành công rồi thì anh dẹp nó đi, hàng nghìn công nhân làm theo công nghệ cũ đang lo ngại vì sợ mất miếng cơm, manh áo, họ đang muốn tìm anh đó". Anh hỏi lại: "Tìm để làm gì, liệu người ta có giết tôi không?". Anh bạn nói: "Chắc không đến mức giết nhưng anh sẽ bị phiền phức". Anh nói: "Tôi chỉ sợ bị giết, nếu không thì chẳng sao". Nói vậy nhưng anh ngày càng áy náy nhiều hơn về đời sống của hơn nghìn người chỉ biết làm theo công nghệ cũ. Anh đã quyết định trình Cục Đo đạc và Bản đồ Nhà nước phương án đưa Viện Nghiên cứu khoa học Trắc địa - Bản đồ vào hoạt động theo cơ chế hạch toán kinh doanh. Từ đó, một mặt thuyết phục các Giám đốc doanh nghiệp tổ chức lại sản xuất theo công nghệ mới, một mặt lấy Viện Nghiên cứu để tạo động lực cạnh tranh. Tổ chức đào tạo công nghệ mới cho người có khả năng, xếp công việc mới cho người không đủ khả năng. Cục Đo đạc và Bản đồ Nhà nước đã chấp thuận kế hoạch đó và quyết định áp dụng công nghệ định vị toàn cầu trong thực tế sản xuất. Đến nay, mọi công việc xác định toạ độ ở Việt Nam đều sử dụng công nghệ mới này. Việt Nam được đánh giá là nước thuộc nhóm đứng đầu về công nghệ trắc địa - bản đồ trong khu vực Đông Nam Á.

Ghi nhận đóng góp của ông đối với quá trình phát triển công nghệ trắc địa và bản đồ ở Việt Nam, Chủ tịch nước đã trao tặng Huân chương Độc Lập hạng nhất cho Cục Đo đạc và Bản đồ, trao tặng Huân chương Lao động hạng ba cho ông. Dù công tác ở vị trí nào ông cũng luôn là người trung thực, ham học hỏi và lao động hết mình như còn là cậu sinh viên đam mê toán học thuở nào.  

 

Người nâng bước những công trình khoa học nước nhà

 

Có thể nói chính AHLĐ.GS.TSKH Đặng Hùng Võ là người đưa giới khoa học đến thẳng với đề tài nghiên cứu của doanh nghiệp. Phó Thủ tướng Nguyễn Khánh lúc bấy giờ rất tâm đắc với cách làm này và quyết định thành lập Liên hiệp khoa học – sản xuất Trắc địa – Bản đồ vào năm 1991,  AHLĐ.GS.TSKH Đặng Hùng Võ được bổ nhiệm làm giám đốc. Và khi đề tài thành công, ông được Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm làm Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Địa chính, phụ trách mảng  khoa học công nghệ. Lợi thế này giúp nhà khoa học kiêm nhà quản lý đi sâu vào đổi mới công nghệ toàn diện đối với ngành đo đạc và bản đồ. Những kinh nghiệm về lựa chọn thiết bị, tự nghiên cứu công nghệ, thử nghiệm trong sản xuất, quy trình áp dụng vào sản xu���t, giải quyết lao động dôi dư đối với công nghệ GPS đã tạo điều kiện thành công trong tất cả công nghệ chụp ảnh máy bay, xử lý ảnh số, biên tập bản đồ số, hệ thống thông tin địa lý, chế in bản đồ số, đo đạc địa hình đáy biển. Sau 5 năm, đến năm 2000, toàn bộ dây chuyền sản xuất  các sản phẩm đo đạc và bản đồ đã được xây dựng lại trên cơ sở công nghệ số.

Trong thời điểm này ông còn trực tiếp chỉ đạo công trình “Xây dựng Hệ Quy chuẩn và Hệ toạ độ Quốc gia Việt Nam - 2000”. Thông thường các nước đang phát triển phải mời chuyên gia nước ngoài thực hiện công trình khoa học phức tạp này. Chất xám của các nhà khoa học Việt Nam đã được thừa nhận khi công trình hoàn thành đạt tiêu chuẩn  quốc tế và được sử dụng  rộng rãi trên phạm vi cả nước.

 

 

AHLĐ.GS.TSKH Đặng Hùng Võ - nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường phát biểu tại buổi tọa đàm “Chất thải công nghiệp: Hạn chế trong quản lý và khuyến nghị chính sách” do Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) tổ chức ngày 10/05/2016 (Ảnh: T.K)

 

Sau này, trong chức trách của mình ông đã tham gia nhiều trong lĩnh vực xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về đo đạc và bản đồ, Luật đất đai… Việc gì ông cũng làm hết sức mình, như bản tính đầy trách nhiệm không phải nhào theo thời gian, theo chức vụ.

Người ta có thể đưa ra những con số để minh chứng cho hiệu quả kinh tế của các dự án. Chẳng hạn dự án ứng dụng công nghệ định vị toàn cầu GPS, thu hồi vốn sau hai năm ứng dụng, tổng số tiền làm lợi lên tới trên 55 tỷ… Nhưng có lẽ không thể tính được hết hiệu quả khi thời gian thi công giảm từ 10 đến 20 lần, công tác  đo đạc và bản đồ đi trước một bước, phủ kín cả nước và từng vùng lãnh thổ, tạo ra các quyết sách đúng.

“Suốt một đời gắn bó với trắc địa đo đạc, ông có đam mê nghề của mình?” Trả lời câu hỏi cuối cùng của chúng tôi ông Võ vẫn trung thành với bản tính của mình “Đây là duyên phận. Nhưng tôi nghĩ rằng, khi đã được giao việc gì, khi đã nhận việc gì đều phải làm hết trách nhiệm, phải biết cách làm sao cho tốt nhất…” Quả thực khó phân biệt được nhà khoa học và nhà quản lý trong con người Đặng Hùng Võ.

AHLĐ.GS.TSKH Đặng Hùng Võ là thường trực Ban soạn thảo đề án Xây dựng Luật Đất đai năm 2003. Thời gian thực hiện công việc này quá ngắn, nhưng cùng tập thể ban soạn thảo, tận dụng trí tuệ trong ngành và xã hội để hoàn thành Dự án Luật với chất lượng cao. Sau khi Luật Đất đai năm 2003 được Quốc hội thông qua, ông lại được giao chủ trì soạn thảo Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai.

Luật Đất đai, Nghị định thi hành Luật Đất đai góp phần giải quyết những bất cập, nổi cộm trong công tác quản lý đất đai, đồng thời tạo hành lang pháp lý cho sự phát triển của thị trường bất động sản, hoạt động đầu tư, phát triển các khu công nghiệp…

Bên cạnh các khu công tác quản lý, nghiên cứu ở Bộ Tài nguyên và Môi trường, AHLĐ.GS.TSKH Đặng Hùng Võ vẫn trực tiếp vẫn trực tiếp giảng dạy ở trường ĐH Khoa học Tự nhiên, và ở một số trường đại học nước ngoài. Ông đã tham gia đào tạo hàng trăm cán bộ tốt nghiệp đại học, hàng chục thạc sĩ, tiến sĩ và viết 4 giáo trình dạy đại học trên đại học.

Sức lao động và sáng tạo của AHLĐ.GS.TSKH Đặng Hùng Võ đã đóng góp đáng kể vào quá trình đổi mới toàn diện công nghệ của ngành đo đạc và bản đồ và xây dựng hệ thống chính sách, pháp luật đất đai cho giai đoạn đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước. Với ông còn niềm hạnh phúc lớn luôn được bạn bè, đồng nghiệp quý mến, trân trọng về lối sống bình dị, cởi mở chân tình trong quan hệ với mọi người và tinh thần say mê lao động.


Nienlich.vn


 

Content1 (mobil)
content1nhasangnghiep
Content2 (mobil)
content2