Bệnh viện E - 50 năm một chặng đường: Đổi mới để phát triển

21-10-2017

Nhân kỷ niệm 50 năm thành lập Bệnh viện E (17/10/1967 – 17/10/2017) và đón nhận Cờ thi đua của Chính phủ, GS. TS.Lê Ngọc Thành, Giám đốc Bệnh viện E đã có những về những thành quả trong suốt nửa thế kỷ qua cũng như những phương hướng phát triển trong thời gian tới.

PV: Đến nay Bệnh viện E tròn 50 tuổi, Giáo sư có thể đánh giá nét khái quát về những thành tựu của bệnh viện nửa thế kỷ qua?

GS. TS. Lê Ngọc Thành: Sau 50 năm thành lập, đến nay Bệnh viện E đã đủ điều kiện, khả năng để khám, chữa và chăm sóc sức khỏe cho người dân Thủ đô nói riêng cũng như cả nước nói chung. Bệnh viện đã có đầy đủ phương tiện kỹ thuật với hơn 1.000 giường bệnh. Đặc biệt, để nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, giảm thời gian xét nghiệm, chẩn đoán cho người bệnh, bệnh viện đã sử dụng máy chụp cắt lớp vi tính 64 lát cắt, không chỉ chẩn đoán chính xác bệnh lý thông thường mà còn có thể tầm soát bệnh lý động mạch vành, khảo sát các bệnh lý mạch máu toàn cơ thể…

Nhờ vậy, số lượng người bệnh đến khám chữa bệnh tại bệnh viện đều tăng lên hàng năm. Trung bình mỗi năm bệnh viện khám và điều trị gần 300 nghìn lượt bệnh nhân ngoại trú và hơn 20.000 bệnh nhân nội trú. Cái đáng mừng nhất trong nửa thế kỷ xây dựng và phát triển đó là đến nay, Bệnh viện E là một trong số những bệnh viện tuyến đầu có đội ngũ nhân viên y tế trình độ chuyên môn cao, được đào tạo bài bản, tâm huyết với nghề. Hiện bệnh viện có 1 giáo sư, 6 phó giáo sư, hơn 20 tiến sĩ và 70% số bác sĩ tại bệnh viện có trình độ trên đại học. Không chỉ vững về chuyên môn, cái được lớn nữa đó là bệnh viện đã tạo được môi trường văn hóa làm việc chuyên nghiệp, nhân văn.

GS.TS Lê Ngọc Thành

 

Mỗi bệnh viện muốn khẳng định thương hiệu chỉ còn cách nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh và cơ sở vật chất đi kèm. Được biết, với Bệnh viện E, việc nâng cao chất lượng thường gắn liền với những hội nghị khoa học chuyên đề. Giáo sư có thể nói rõ hơn vấn đề này?

Trong những năm gần đây, ngoài công tác khám, chữa bệnh, đội ngũ y bác sĩ bệnh viện cũng tích cực trong công tác nghiên cứu khoa học, tổng kết, đúc rút kinh nghiệm thực tiễn, góp phần không nhỏ vào việc nâng cao chất lượng chuyên môn, chăm sóc người bệnh. Mỗi năm có hàng trăm đề tài có chất lượng chuyên môn cao, được nghiên cứu ngay tại bệnh viện.

benh vien e 50 nam mot chang duong doi moi de phat trien

Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến tặng bằng khen cho các cá nhân suất sắc tại bệnh viện nhân kỷ niệm 50 năm thành lập. Ảnh Minh Khuê

Ngay như trong khuôn khổ Lễ kỹ niệm 50 năm thành lập, Bệnh viện E đã tổ chức Hội nghị khoa học và thu hút khoảng 1.000 đại biểu là các chuyên gia y tế, các nhà quản lý y tế đến tham dự. Hội nghị khoa học đã nhận được 119 đề tài nghiên cứu từ các nhà khoa học trong và ngoài nước.

Hội nghị thu được số lượng các đề tài nghiên cứu lớn như vậy, bởi đó là kết quả nghiên cứu khoa học nghiêm túc với số liệu “biết nói” và mang tính thống kê tại các khoa lâm sàng, cận lâm sàng của Bệnh viện E. Kết quả này có được vì Bệnh viện tổ chức hội nghị sinh hoạt khoa học thường kỳ hằng tháng (2 tuần/lần) cho cán bộ viên chức đều phải tham gia. Đây cũng là dịp quý giá để các y bác sĩ Bệnh viện E và các đồng nghiệp trong và ngoài nước cập nhập, trao đổi các kiến thức chuyên môn.

Được biết, Trung tâm tim mạch của Bệnh viện E là đơn vị hạt nhân trong đề án bệnh viện vệ tinh của Bộ Y tế, nhằm hỗ trợ đào tạo, chuyển giao kỹ thuật cho các bệnh viện vệ tinh. Vậy hiện nay, Bệnh viện E đã chuyển giao kỹ thuật và hỗ trợ đào tạo được cho những bệnh viện nào thưa Giáo sư?

Một số bệnh viện giỏi là một bệnh viện đảm bảo được 4 yếu tố. Thứ nhất là bệnh viện khám chữa bệnh giỏi. Thứ 2, là nghiên cứu khoa học. Thứ 3 là giảng dạy và thứ 4 là chuyển giao kỹ thuật được cho cho các bệnh viện tuyến dưới. Đến thời đểm này, Bệnh viện E có một số lĩnh vực như: tim mạch, phẫu thuật cột sống, sản khoa thận nhân tạo và nội soi tiêu hóa và sắp tới là tiết niệu là có thể chuyển giao kỹ thuật cho các bệnh viện vệ tinh.

Hiện trung tâm đã thực hiện tổ chức, đào tạo, chuyển giao kỹ thuật chuyên ngành cho các bệnh viện tỉnh Hải Phòng, Thanh Hóa, Thái Nguyên... Hỗ trợ xây dựng và đào tạo nhân lực để phẫu thuật tim mạch cho Bệnh viện đa khoa Ninh Bình, Bệnh viện Phổi Trung ương,.. Gần đây nhất chúng tôi đã chuyển giao thành công kỹ thuật phẫu thuật tim bẩm sinh cho Bệnh viện Sản Nhi Đà Nằng. Tuy nhiên, chúng tôi cũng phải rất chặt chẽ trong khâu chuyển giao. Phải chuyển giao một cách bài bản, hệ thống, không ào ạt… sẽ dẫn đến chất lượng kém.

Để đảm bảo chất lượng nguồn nhân lực một cách có hệ thống, lâu bền, hiện Bệnh viện E đang đẩy mạnh mô hình hợp tác đào tạo giữa Bệnh viện và Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Xin Giáo sư cho biết vai trò của mô hình hợp tác này là gì? Phương hướng phát triển của bệnh viện trong thời gian tới?

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến xây dựng Bệnh viện E là bệnh viện đa khoa hạng I trực thuộc Bộ Y tế trở thành bệnh viện - trường đại học- nơi kết hợp giữa cơ sở đào tạo cán bộ y tế với các bệnh viện thực hành trong công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học và chăm sóc sức khỏe nhân dân. Vừa qua, Bệnh viện E đã bắt đầu triển khai mô hình bệnh viện – trường đại học với sự hợp tác tích cực với trường Đại học Y Hà Nội.

Cụ thể, ngày 20/8 tại Trường Đại học Y Hà Nội, Bệnh viện E cùng với hơn 40 bệnh viện công và tư nhân, sở y tế các tỉnh thành đã chính thức tham gia “Ngày hội việc làm- 2017” nhằm tìm kiếm nguồn nhân lực có chất lượng cho bệnh viện cũng như tạo điều kiện cho sinh viên mới ra trường nắm bắt cơ hội tìm kiếm việc làm phù hợp cho mình.

Hiện tại chúng tôi đang cố gắng hoàn thành đúng tiến độ 2 dự án lớn, đó là dự án khoa khám bệnh bệnh viện ngoại trú và trung tâm ung bướu. Ngoài việc xây dựng cơ sở, thì hiện nay bệnh viện đang chú trọng việc xây dựng cơ sở vật chất, đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng. Ban lãnh đạo bệnh viện mong muốn, các cán bộ đang đương chức tại bệnh viện, nhất là những bác sĩ trẻ có thể phấn đấu sống bằng nghề của mình trong bệnh viện cho lành mạnh. Và luôn không ngừng phấn đấu, học hỏi để nâng cao kỹ năng, trình độ chuyên môn để có thể khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho người dân được tốt nhất.

Mỗi một ngành nghề, lĩnh vực đều có đặc thù riêng, nhưng đối với nghề y là lĩnh vực đặc biệt. Chức năng quan trọng nhất của hệ thống bệnh viện là khám, điều trị bệnh cho nhân dân. Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường, khi mỗi bệnh viện (tuyến Trung ương- PV) đều phải tự chủ về tài chính, nghĩa là bản thân mỗi bệnh viện phải tự nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, cơ sở vật chất để đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh tốt nhất cho nhân dân. Vì thế, nếu liên tục đổi mới từ khâu quản trị, phương thức quản lý, nâng cao cơ sở vật chất, dịch vụ, trang thiết bi; đặc biệt chất lượng nguồn nhân lực thì sẽ rất khó cạnh tranh. Bệnh viên E cũng không nằm ngoài “guồng quay” đó.

Xin cảm ơn Giáo sư!

Vừa qua, lần đầu tiên Bệnh viện E đã thực hiện thành công Kỹ thuật tái tạo van tim động mạch chủ bằng màng tim tự thân theo phương pháp Ozaki. Đây là kỹ thuật lần đầu tiên có ở Việt Nam, được các bác sĩ Bệnh viện E thực hiện với sự hỗ trợ của GS. Ozaki - Trưởng khoa Phẫu thuật tim – Bệnh viện Đại học Toho (Nhật Bản), một trong những chuyên gia hàng đầu thế giới về phẫu thuật tái tạo van động mạch chủ. Hiện nay, trên thế giới phần lớn vẫn thay van tim nhân tạo bằng van sinh học và cơ học.

Vật liệu van nhân tạo này có tuổi thọ từ 15 - 20 năm, trong trường hợp van bị hỏng, người bệnh cần được thay van mới. Nhưng với phương pháp Ozaki, các bác sĩ tái tạo van động mạch chủ bằng màng tim tự thân của chính bệnh nhân nên khắc phục được hoàn toàn những bất lợi trên. Đây là kỹ thuật hiện đại, phù hợp để ứng dụng can thiệp cho những bệnh nhân bị hỏng van tim ở người lớn tuổi trong trường hợp khẩn nguy. Ưu điểm tiếp theo là vấn đề huyết động học trong bệnh nhân mắc bệnh lý tim mạch được giải quyết triệt để, không làm hở van tim sau mổ.

Bệnh nhân không dùng thuốc chống đông sau mổ, hạn chế được những biến chứng khi dùng thuốc chống đông. Do các bác sĩ dùng chính màng tim tự thân của bệnh nhân thay van động mạch chủ sẽ hạn chế được nguy cơ nhiễm trùng cho bệnh nhân. Đặc biệt, khi áp dụng phương pháp này, chi phí điều trị cho bệnh nhân giảm đáng kể. Chi phí thay van nhân tạo khoảng 40 triệu đồng, nhưng áp dụng phương pháp này, bệnh nhân không mất chi phí mua van tim nhân tạo. Điều này rất quan trọng khi BHYT chưa chi trả.


Theo Minh Khuê - Lao động Thủ đô


 

Content1 (mobil)
content1nhasangnghiep
Content2 (mobil)
content2