[WOWTIMES - VIETKINGS] Nghệ thuật thêu Đông Cứu tại Hà Nội: Nơi những chiếc long bào được hồi sinh từ ký ức lịch sử - Top các di sản tiêu biểu tại 34 tỉnh, thành Việt Nam (P.24)

08-06-2026

(WOWTIMES - VIETKINGS) Khác với các làng lân cận trên địa bàn huyện làm về thêu ren, thêu tranh, thêu cờ, thêu áo dài,... Làng Đông Cứu thuộc xã Dũng Tiến, huyện Thường Tín, Hà Nội (nay là xã Thượng Phúc, Thủ đô Hà Nội) là làng thêu ở miền Bắc theo phong cách thêu và phục chế long bào cho vua chúa.

 

Làng nghề Đông Cứu – ngôi làng nằm bên hữu ngạn sông Nhuệ là nơi có truyền thống lâu đời về nghề thêu tay, chuyên chế tác phẩm phục cho triều đình, cụ thể là các bậc vua chúa và quan quân. Đến nay, nhiều mẫu áo, vật dụng có họa tiết hoa văn cổ qua các triều đại xưa đã được người dân làng nghề kỳ công phục dựng, bảo tồn.

 

 

Lối vào Làng Đông Cứu

 

Ngược dòng thời gian, theo các thông tin được ghi trên bản sắc phong, làng thêu đã sớm xuất hiện dưới triều vua Lê Cảnh Hưng (năm 1746). Làng Đông Cứu thờ ông Lê Công Hành, vị tiến sĩ thời Vua Lê Thần Tông (1637), làm tổ nghề thêu. Khi đi sứ phương Bắc, ông học được kỹ thuật thêu của người phương Bắc nên khi về đã truyền dạy cho dân, trong đó có dân làng Đông Cứu. Nghề thêu ở làng Đông Cứu có nguồn gốc bắt đầu từ nghề bắt nét kim tuyến, bên cạnh đó, thợ thêu ở đây từng được vua Nguyễn mời vào Huế lập thành một đội chuyên thêu các trang phục trong hoàng cung. Trải qua hàng trăm năm, qua nhiều đời vua, Đông Cứu là làng thêu duy nhất đất Bắc chuyên thêu long bào cho vua chúa, áo mão cho quan lại quý tộc trong triều. Tính đến hiện nay, làng Đông Cứu có đến 80% hộ làm nghề thêu và cũng nhờ đó mà đời sống người dân được cải thiện, kinh tế cũng phát triển hơn.

 

 

 

 

Những nét tinh hoa của nghề thêu từ nhiều đời trước được áp dụng vào thêu các sản phẩm ở làng Đông Cứu một cách triệt để. Các công đoạn để thực hiện hoàn thiện thêu được một sản phẩm hầu đồng rất phức tạp. Công đoạn đầu tiên là thiết kế mẫu cho bộ trang phục của các vị thánh hoặc thánh mẫu. Người thợ thêu tại làng Đông Cứu được ví như một họa sĩ. Bởi lẽ khi thêu những bộ trang phục đúng tín ngưỡng, quy chuẩn dân gian thì bản thân người thêu phải am hiểu lịch sử và tín ngưỡng của hầu thánh đã có từ hàng ngàn năm nay.

Sau khi việc vẽ mẫu được hoàn thiện, người thợ thêu tiến hành in mẫu lên tấm vải một cách chi tiết, tỉ mỉ. Trong quá trình in họa tiết, người thợ vẫn phải vận dụng sự sáng tạo của mình để các hình khối được phối hợp một cách hài hòa nhất. Sau đó, tấm vải đã được in mẫu sẽ chuyển đến tay người thợ thêu để trang trí tạo ra hình dáng, thần thái của linh vật.

 

 

Đầu tiên các nghệ nhân sẽ phát thảo các họa tiết lên vải trắng

 

 

Những bó chỉ đầy màu sắc được sắp xếp và phân loại cẩn thận để phục vụ cho việc thêu 

 

Mỗi họa tiết được thêu lên trang phục đều có ý nghĩa riêng để phân biệt, với các ông Hoàng thì sử dụng biểu tượng của rồng, trang phục của thánh mẫu thì có biểu tượng của phượng. Các vị Thánh trong tín ngưỡng thờ Mẫu ngự trị, cai quản khắp được phân chia trong Tứ phủ (bốn miền) tương ứng với bốn màu tượng trưng: Thiên phủ (miền trời) - màu đỏ; Nhạc phủ (thượng ngàn - miền rừng núi) - màu xanh; Thoải phủ (miền sông nước) - màu trắng và Địa phủ (miền đất đai, đồng bằng) - màu vàng. Theo thứ tự trong thần điện, không kể hàng Thánh Mẫu (không mở khăn khi hầu), các vị Thánh hay giáng đồng phân chia các hàng cơ bản: Quan lớn, Chầu Bà, Ông Hoàng, Thánh Cô, Thánh Cậu”.

Các sản phẩm của khăn chầu, áo ngự cũng được thay đổi theo năm tháng để phù hợp với nhu cầu và sự phát triển của xã hội. Ngày trước chỉ có những tấm vải thô mộc, thêm màu sắc cơ bản nhưng ngày nay chất liệu đã được đổi thành gấm, vóc.  Người thợ thêu khăn áo hầu đồng cũng không khác là bao so với công việc của một người nghệ sĩ dân gian. Chỉ bằng những dụng cụ đơn giản như cây kim, sợi chỉ màu… những tác phẩm với biểu tượng nghi lễ truyền thống trong đạo mẫu hiện lên một cách sinh động, rồng phượng như đang uyển chuyển trên gấm vóc. Trang phục hầu bóng cũng chia làm hai loại chính: hàng tinh và hàng chợ. Chất lượng của khăn chầu áo ngự nằm ở chất liệu vải và họa tiết thêu trên trang phục. Theo quan niệm của người xưa có 36 giá đồng, tương ứng với 36 vị thánh bảo vệ, che chở cho người dân, 36 bộ trang phục khác nhau quy định cho từng giá đồng. Mỗi bộ trang phục đều rất phong phú nhưng phải tuân theo quy tắc về màu sắc, phục sức đi kèm. 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Rồng uốn lượn trong bộ trang phục của quan đệ nhị (màu xanh), quan đệ nhất (màu đỏ) được thêu tỉ mỉ, từng chi tiết nổi bật trên tấm lụa. 

 

 

Nếu là trang phục hàng chợ thì chất liệu may bằng lụa pha tỷ lệ sợi nilon cao, các họa tiết được thêu bằng máy

 

 

Những đường kim mũi chỉ tinh xảo của các nghệ nhân làng Đông Cứu đã giúp cho các trang phục hầu đồng trở nên đặc biệt hơn

 

Ngoài ra làng còn được biết đến với kỹ thuật phục dựng long bào và các cổ phục triều đình xưa. Việc phục dựng long bào là một quá trình vô cùng công phu và đầy thử thách. Ngày trước, tư liệu về trang phục cung đình còn sót lại rất hiếm hoi, việc tìm kiếm cũng không hề dễ dàng. Các tài liệu lịch sử chính thống thì mờ nhạt, không đủ rõ ràng để nghiên cứu một cách chi tiết. Các nghệ nhân trong làng phải kiên trì, tự mày mò, tìm kiếm và liên hệ xin tư liệu từ cả trong nước lẫn nước ngoài. Có những bản mẫu chỉ là những bức ảnh đen trắng, hoa văn đã phai nhòa theo năm tháng, nhưng các nghệ nhân vẫn không nản chí mà tiếp tục tìm tòi.

 

 

Người thợ sẽ dựa vào hình vẽ lịch sử của những bộ trang phục để vẽ lại

 

Mỗi chiếc áo trung bình dùng hết hơn 14m vải, không phải nhiều người cùng làm một lúc được mà tối đa chỉ 3 – 4 người cùng làm. Cầu kỳ, tỉ mỉ là thế song đối với bộ trang phục đơn giản nhất, có đủ hết nguyên liệu, chỉ tập trung vào phục dựng thì bộ áo đơn giản nhất cũng cần 4 thợ thêu làm việc trong khoảng 6 tháng, còn bộ phức tạp phải huy động tới 7 – 8 thợ thêu ròng rã 15 tháng. Thậm chí có những bộ phải mất hàng năm trời mới hoàn thành. Trong đó, công đoạn khó nhất phải kể đến chính là phân tích kỹ các kích thước trang phục, số đo chuẩn mực của vua chúa, quý phi, thái hậu… Sau đó phải sắp đặt chi tiết hoa văn, họa tiết cho cân đối, hài hòa. Bởi vậy cần phỏng đoán, tính toán, suy luận và hỏi tư liệu, kết hợp việc tra trên sách và cả những cuốn nháp của các nhà sử học xưa. Sau nhiều tháng miệt mài sưu tầm, đối chiếu họa tiết cổ, các nghệ nhân mới bắt đầu vẽ phác thảo trang phục. Đây là khâu mang tính quyết định, ảnh hưởng trực tiếp đến độ chuẩn xác và vẻ đẹp hoàn thiện của bộ trang phục cung đình sau khi phục dựng.

 

 

Những người thợ tham gia phục dụng cổ phục triều đình đều là những nghệ nhân thêu dày dặn kinh nghiệm

 

Mỗi thời đại lại có thay đổi ít nhiều trong thiết kế, họa tiết, màu sắc, kỹ thuật thêu và chất liệu. Việc này đòi hỏi nghệ nhân phải tính toán, tìm hiểu rất chính xác vì hầu như không còn một nguyên mẫu trang phục nào được lưu giữ cho đến ngày hôm nay. Thêu trang phục cung đình phải tuân thủ theo rất nhiều quy tắc như: long bào của vua dù có thêu bao nhiêu mũi thì các mũi phải đều tăm tắp về khoảng cách, độ dài, mỗi gam màu lại có năm sắc độ khác nhau, cho nên phải dùng hàng trăm màu chỉ thêu. Đó là chưa kể một loạt kỹ thuật đặc biệt được ứng dụng trong thêu những họa tiết khó, sự đối xứng trong các họa tiết. Đặc biệt khi thêu rồng trên áo vua phải “thổi hồn” để hình con rồng thể hiện được sự uy nghiêm. Không chỉ áo long bào, mà cả giày, mũ của vua cũng có họa tiết khác nhau.

 

 

 

 

 

Từng chi tiết đều được may cẩn thận với nhiều kỹ thuật khác nhau. Riêng long bào phải tuân thủ nghiêm ngặt: mũi thêu đều nhau về độ dài, khoảng cách, mỗi gam màu chia thành năm sắc độ, dùng hàng trăm màu chỉ để đạt đúng chuẩn

 

 

Một số mẫu trang phục cung đình được trưng bày tại làng Đông Cứu 

 

Với những giá trị văn hoá đó, vào năm 2017, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã chính thức công nhận Nghề thủ công truyền thống thôn Đông Cứu là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Mỗi sản phẩm làm ra là sự kết tinh của tình yêu nghề và nét đẹp truyền thống văn hóa của người Việt. Việc bảo tồn, gìn giữ và phát triển nghề thêu cung đình tại làng Đông Cứu là một điều vô cùng trân quý. Với những ngôi làng khác, cây đa, giếng nước, sân đình là mảnh hồn làng, còn đối với làng Đông Cứu, mảnh hồn làng ấy còn gắn liền với nghề thêu cao quý này. Hơn thế nữa, nghề thêu cung đình nơi đây còn là di sản quý giá và là niềm tự hào của người Việt Nam.

------------------------------------------------------------------

TỔ CHỨC KỶ LỤC VIỆT NAM - VIETKINGS

01 Đặng Văn Ngữ, Phường Phú Nhuận, TP. Hồ Chí Minh

Điện thoại: (0283) 8 477 477

Đăng ký Kỷ lục: 0908 254 258 - 08 333 68 555

 

Mỹ Hằng - WowTimes (Tổng hợp và biên tập, ảnh: Internet)


 

Content1 (mobil)
content1nhasangnghiep
Content2 (mobil)
content2